Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức Phật Giáo.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức Phật Giáo.. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Chương Trình Lễ Hội Quan Âm

TRUNG TÂM PHẬT GIÁO –
CHÙA VIỆT NAM

10002 Synott Rd, Sugar Land, TX 77498

Tel: 281/575-0910 Fax:281/498-4540

www.vnbc.org – email: trungtamphatgiao@yahoo.com



THÔNG BÁO




Trung Tâm Phật Giáo – Chùa Việt Nam xin trân trọng thông báo và kính mời quý Phật tử và đồng hương khắp nơi cùng về tham dự Lễ Hội Quan Âm – Ngày Hành Hương và Cầu Nguyện năm 2010 được long trọng tổ chức vào các ngày sau đây:

Ø Thứ sáu, ngày 26/3/2010 - lúc 6 giờ chiều

· Lễ Khai Mạc - Tôn Kính, Chiêm Bái Bảo Tượng Phật Ngọc cho Hòa Bình
· Đại Vũ Khúc Mừng Phật Ngọc
· Hành Lễ Nhất Niệm Nhất Bái
· Đêm Hội Hoa Đăng Cầu Nguyện
· Văn Nghệ Cúng Dường Phật Ngọc và 10 Năm Lễ Hội Quan Âm


Ø Thứ Bảy, ngày 27/3/2010 - lúc 7 giờ sáng

· Đạo Tràng Linh Hiển “ Ngàn Mắt Ngàn Tay” của Mẹ Hiền Quan Thế Âm

· từ lúc 12 giờ trưa cho đến 5:30 chiều Các sinh hoạt dân gian: Thả Thơ, Thư Pháp, Ẩm Thực, Biểu Diễn Múa Lân,Biểu Diễn Võ Thuật, Bói Kiều,Văn Nghệ và nhiều trò chơi lành mạnh giải trí khác.

· Lúc 5:30 chiều: Lễ Chính Thức Lễ Hội Quan Âm năm 2010

: Đại Vũ Khúc Mừng Lễ Hội - Pháp Cổ Cúng Dường

: Thắp Sáng Ngọn Lữa Từ Bi


· Lúc 8:30 tối: Một chương trình văn nghệ đặc biệt với chủ đề “ Mẹ Hiền Trăng Mát ”

Với sự góp mặt của các ca sĩ: Khánh Ly, Quang Tuấn, Ngọc Hạ, Hương Thủy, Phương Hồng Thủy, Kim Loan, Phượng Hoàng, Ngọc Thu, Nhật Khoa, Johnny Thái, Dương Bửu Trung, Lưu Bửu Lộc, Kenny Ngô Văn Tường. Danh hài Việt Hương và Hoài Tâm. Ban Hơp ca Hương Lam; Đoàn Lân và đội trống Gia Đình Phật Tử Huyền Quang, Đoàn Vũ Gia Đình Phật Tử Viên Giác Oklahoma và Đoàn Vũ Trường Viêt Ngữ Huyền Quang. Ban Nhạc The Crystal; One man Band Nhạc sĩ Kim Bằng và One Man Band Nhạc Sĩ Quốc Bảo.

MC: Đỗ Thanh, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyên Hảo, Quảng Từ và Kim Bằng.


Ø Chủ Nhật, ngày 28/3/2010

· Chiêm Bái Phật Ngọc

· Lúc 11 giờ trưa: Lễ 20 năm - Thành Lập Trung Tâm Phật Giáo - Chùa Việt Nam

: Lễ Khai Đàn Tràng Giải Oan Bạt Độ Chư Âm Linh


Ø từ Thứ Hai ngày 29/3 đến Chủ Nhật ngày 4/4/2010 mỗi ngày từ 6 giờ sáng đến 10 giờ tối Phật tử và đồng hương đến tham dự các khoá lễ và Chiêm Bái Bảo Tượng Phật Ngọc

Ø Thứ Sáu, ngày 02/4/2010 - lúc 5 giờ chiều Lễ Giải Oan Bạt Độ Chư Hương Linh, Oan Hồn Uổng Tử

Ø Thứ Bảy, ngày 03/4/2010 - lúc 4 giờ chiều Lễ Đăng Đàn Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn Các Loại.

Ø Chủ Nhật, ngày 04/4/2010 - lúc 11:30 trưa Lễ Bế Mạc - Hoàn Nguyện Phật Ngọc.


Kính thưa quý vị,

Cảm niệm ân đức cứu khổ của Mẹ Hiền Quan Âm; nghĩ đến phước báu hiếm có trong đời khổ, mà được chiêm bái, đảnh lễ Bảo tượng Phật Ngọc tôn quý nhất; lại để cùng hướng lòng cầu nguyện cho thế giới hòa bình, kẻ mất người còn và khắp cả chúng sanh được an lạc hạnh phúc trong hoàn cảnh đầy tai ương hiện nay. Trung Tâm Phật Giáo - Chùa Việt Nam kính thông báo và kính mời Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni trên mười phương, quý Phật tử và đồng hương xa gần cùng về tham dự Lễ Hội. Để chúng ta cùng sống trong Trái Tim Từ Bi của Phật, đem hương lành của Mẹ Hiền Quan Âm để chuyển hóa mọi ác nghiệp khổ đau cho mình và cho đời. Chúng tôi chân thành và tin tưởng được đón tiếp quý vị trong ngày Lễ Hội này.

Trung Tâm Phật Giáo - Chùa Việt Nam

Nay Thông Báo và Trân Trọng Kính Mời

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2009

CHƯƠNG TRÌNH CÁNH DIỀU TUỔI THƠ




TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI

Đến tham dự Bữa Cơm Chay và Chương trình Ca Nhạc

CÁNH DIỀU TUỔI THƠ

Nhằm gây quỹ để tiếp nối công trình nuôi dưỡng trẻ em mồ côi nghèo trong chương trình
Cô Nhi Tại Gia của Cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hải,
và cũng để giúp đỡ
Các em cô nhi do một số Thiền Viện tại Việt Nam bảo trợ,
Thiền Tự Chân Nguyên và một nhóm thân hữu tại Houston
sẽ tổ chức một bữa cơm chay từ thiện, mang tên:

Cánh Diều Tuổi Thơ

Vào ngày Chủ Nhật, Ngày 17 Tháng 05 Năm 2009
lúc 5 giờ chiều

Tại

Nhà hàng Kim Sơn Ballroom Bellaire
10603 Bellaire Blvd.
Houston, TX 77072

Bữa Cơm Chay gây quĩ sẽ có chương trình ca nhạc giúp vui với sự trình diễn của nhiều nghệ sĩ địa phương.

Kính mời quí đồng hương hoan hỉ đến tham dự để cùng góp tay với chúng tôi trong Chương Trình Từ Thiện này.
Sự hiện diện của quí vị sẽ là niền an ủi lớn lao cho các Cô Nhi ở Việt Nam đang cần sự giúp đỡ.

Giá vé ủng hộ là 25 Mỹ kim và có đặt bán tại
Tiệm Bánh Hỏi Vạn Lợi trên đường Bellaire,

Để biết thêm chi tiết, xin liên lạc về Thiền Tự Chân Nguyên, theo địa chỉ và điện thoại sau đây:


Chan Nguyen Meditation Center
12039 Holderreith Rd
Tomball, TX 77375
Điện Thọai: 281-290-0984



Mọi đóng góp cho chương trình Từ Thiện nầy sẽ được giảm trừ thuế theo luật định.

Trân Trọng Kính Mời
Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Thuần Hạnh

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2009

Một Phật tử Hà Nội lên tiếng chất vấn Hòa thượng Thích Trí Quảng

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 5.1.2009
Một Phật tử Hà Nội lên tiếng chất vấn Hòa thượng Thích Trí Quảng



PARIS, ngày 5.1.2009 (PTTPGQT) - Sáng nay, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế nhận được một bức thư của ông Tuệ Nguyên, một Phật tử ở Hà Nội, nhờ đăng tải để rộng đường dư luận. Bức thư tâm sự nhưng cũng là lời chất vấn của đa số Phật tử thầm lặng đối với giới Tăng sĩ vì thời cuộc mà bỏ chốn thiền môn để sa chân phục vụ ý thức hệ ngoại lai Cộng sản. Vì sa chân nên họ đã quay lưng với nền Phật giáo Cứu khốn Trừ nguy có hai nghìn năm truyền thống. Và chịu thầm lặng vì Nhà nước Xã hội chủ nghĩa thủ tiêu mọi tự do cơ bản, chủ yếu là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và tự do báo chí, được tuyên dương và bảo đảm trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà thế giới kỷ niệm 60 năm công bố.

Thư được gửi đến Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương kiêm Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh (tức Giáo hội Phật giáo Nhà nước) đồng thời là Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh (tổ chức ngoại vi và tay sai của Đảng Cộng sản Việt Nam).

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải nguyên văn thư ấy dưới đây :


Đôi dòng tâm sự kính gửi Hoà thượng Thích Trí Quảng
Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương, Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Tp. HCM, Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tp. HCM.



Kính bạch Hoà thượng,

Con là một phật tử sinh ra và lớn lên tại Hà Nội sau năm 1975. Tuy suốt 12 năm học phổ thông và 5 năm đại học con đều được học dưới mái trường Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc. Nhưng con có may mắn là khi trưởng thành thì được tiếp xúc với một số bậc thiện tri thức và được hiểu hơn về Đạo Phật, nhờ đó mà con đã quy y Phật.

Con đã nhiều lần đọc được những bài luận của Hoà thượng. Trong những lần đó con có cảm nhận Hoà thượng là một nhà Phật học sâu sắc, văn viết của Hoà thượng súc tích và chứa đựng nhiều điều mà chúng con hàng phật tử hậu học được truyền trao những giá trị đúc kết bổ ích trên con đường học Phật.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây Hoà thượng có viết một bài với nhan đề “ĐỨC VUA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG VỊ TỔ NGƯỜI VIỆT NAM CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM” nhân dịp tổ chức Tưởng niệm 700 ngày Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, do Trang nhà Thư Viện Hoa Sen đăng tải (http://www.thuvienhoasen.org/trannhantong-tuongniem-32.htm). Con lấy làm băn khoăn nhiều điều và muốn gởi lời tâm sự đến Hoà thượng. Kính xin Hoà thượng từ bi hoan hỉ chỉ dạy cho con và những ai có cùng băn khoăn về những điều sau:

1. Trong bài viết của mình có đoạn Hoà thượng viết “… Ngài (Đức Phật Hoàng) cũng hoàn thành một Phật sự vô cùng đặc biệt, đó là sự thống nhất các hệ phái Phật giáo có trước và khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đây là lần đầu tiên Phật giáo thời nhà Trần đã thống nhất được Phật giáo và thành lập một Giáo hội duy nhất với một Thiền phái duy nhất của người Việt Nam là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử”.

Thưa Hoà thượng, đọc đoạn trên con không hiểu là dựa vào đâu mà ngài nói rằng Đức Phật Hoàng và Phật giáo nhà Trần thành lập một giáo hội DUY NHẤT với một Thiền phái DUY NHẤT của người Việt Nam ? Theo rất nhiều sách, tham luận về lịch sử Phật Giáo Việt Nam của các học giả uyên bác như Trần Văn Giáp, Thích Mật Thể, Đoàn Trung Còn, Nguyễn Lang, Lê Manh Thát, v.v… thì Đức Phật Hoàng lấy tinh tuý của các dòng thiền Phật giáo trước đó và với trí tuệ siêu việt của ngài, ngài đã khai sáng dòng Thiên Trúc lâm mang đậm nét Việt Nam, rất đơn giản mộc mạc nhưng siêu việt.

Như vậy, chẳng có bằng chứng nào nói rằng Phật giáo nhà Trần thống nhất và thành lập một giáo hội duy nhất cả. Con rất tin tưởng rằng, với trí tuệ và lòng từ của Đức Phật Hoàng, không bao giờ ngài áp đặt một cái gì là duy nhất, đặc biệt là về mặt tư tưởng đối với người dân mà ngài thương yêu vô bờ bến. Có lẽ chăng thời đó do uy đức và phẩm hạnh của ngài quá lớn, cộng với phẩm chất của dòng Thiền Trúc lâm là rất phù hợp đối với người Việt mà khiến cho phần lớn những người tu học lúc bấy giờ đều rất mến phục và quý kính. Chính vì vậy mà trong lịch sử ít nhắc đến các hệ phái khác vào thời điểm ấy. Liệu nói như Hoà thượng thì có oan cho Đức Phật Hoàng không, thưa Hoà thượng ?

2. Rồi Hoà thượng viết tiếp “Thành quả thống nhất đối với đất nước và đạo pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông gợi cho chúng ta liên tưởng đến điểm tương đồng với Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay. Năm 1975, khi nước nhà được độc lập và thống nhất, thì đến năm 1981, sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam chúng ta cũng được chư tôn thiền đức của ba miền đồng lòng thống nhất trong một Giáo hội Phật giáo Việt Nam duy nhất”.

Thưa Hoà thượng, con lấy làm băn khoăn là sao Hoà thượng lại so sánh thành quả thống nhất Phật giáo thời Đức Phật Hoàng - Phật Giáo Trúc Lâm cách đây hơn 700 năm với thành quả của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (thành lập năm 1981) ngày nay được ? Bởi đơn giản hàng hậu học như con, với chút kiến thức rất nhỏ bé cũng thấy 2 thành quả trên là khác nhau rất xa, xa lắm. Phật Giáo Trúc Lâm hồi đó lấy định hướng nhập thế để mà hành đạo, sống tuỳ duyên mà chứng đắc Phật tánh trong mỗi người, thể hiện vô cùng rõ ràng trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Đức Phật Hoàng:

“Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn nhọc ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”



“Sạch giới lòng, dồi giới tướng
Nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu”

Phật Giáo Trúc Lâm hồi đó dạy con người lấy lòng NGAY THẲNG để mà giúp cho đất nước non sông, đưa ra những lời khuyên cho đến bậc quân vương và các quan lại phải sống sao cho đúng mực, vì dân vì nước. Điển hình như vua Trần Anh Tông nhiều lần bị Đức Phật Hoàng quở mắng một cách nghiêm túc vì ham chơi và không có hành động thích đáng lo cho dân. Hồi đó, điển hình là Đức Phật Hoàng, luôn đặt mục tiêu Hộ Dân, Hộ Quốc lên trước cả Hộ Pháp để làm tôn chỉ mà hành đạo, không ngần ngại chi cả việc hi sinh thân mạng.

Con không hiểu ngày nay “Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đã làm được gì để có thể so sánh với Gíao hội Trúc Lâm hồi đó ? “Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đã làm gì để Hộ Quốc trước việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong khi Nhà cầm quyền Việt Nam không những im hơi lặng tiếng mà còn ngăn cấm và bắt bớ sinh viên Việt Nam biểu tình ôn hoà phản đối sự việc trên ?

“Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đã Hộ quốc thế nào khi chứng kiến cảnh quan chức Việt Nam ăn trên ngồi trước, tham nhũng tham ô tràn lan gây phẫn nộ cho hơn 80 triệu người dân Việt mà đại bộ phận ở khu vực nông thôn đang sống trong cảnh mà Liên Hợp Quốc liệt vào mức nghèo khổ ?

“Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đã làm gì để giúp đỡ những người dân oan mất đất, đi khiếu kiện trong mấy chục năm trời để gọi là Hộ dân ?

“Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đã làm gì để hoằng dương chính pháp nói lên sự thật đau lòng của hiện trạng không có tự do, nhân quyền và dân chủ cho người dân ngay tại đất nước Việt Nam để gọi là Hộ Pháp?

Phải chăng ý ngài nói thành quả xây chùa đúc tượng cho thật nhiều như ngày nay mà “Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đang làm và sẽ làm ? Phải chăng ý ngài nói ngày càng có nhiều người xuất gia tu học dưới những ngôi trường trung và cao cấp về Phật học được lèo lái bởi “Gíao hội Phật giáo Việt Nam” mà nhiều người trong đó không từng thuộc lấy một bài kệ trong Kinh Pháp Cú hoặc Bát Nhã Tâm kinh, còn nói gì đến hoằng dương chính pháp ? Phải chăng ý ngài nói đến nhiều chư Tăng Ni trong “Gíao hội Phật giáo Việt Nam” đang hành nghề cúng bái để đáp ứng nhu cầu lợi danh thế tục ? Hoặc giả trong thời kỳ này mà chỉ lý giải suông kinh điển, hoặc thao thao bất tuyệt những điều chẳng ăn nhập gì với cuộc sống khổ cực của người dân Việt thì thật đau xót lắm thưa Hoà thượng.

Càng đau xót hơn khi mà những điều trên lại diễn ra trước mặt dân chúng đang lầm than, đại bộ phận sống trong cảnh nghèo túng và bị cường quyền bịt miệng !!!

Và còn rất rất nhiều điều khác nữa cho thấy sự khác xa giữa Gíao hội Trúc Lâm với “Gíao hội Phật giáo Việt Nam”.

Không những thế, Hoà thượng còn nói là vào năm 1981, chư tôn đức 3 miền đồng lòng thống nhất trong một giáo hội phật giáo Việt Nam duy nhất là “Gíao hội Phật giáo Việt Nam”. Đọc đến đây thì con ngỡ ngàng quá. Vì rõ ràng là Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất còn đây và đang thăng hoa về phẩm chất Phật để mà Hộ Quốc, Hộ Dân và Hộ Pháp đúng theo tinh thần của Giáo hội Trúc Lâm đã làm trong suốt lich sử tồn tại của mình. Chắc ngài thật rõ biết bậc tiền bối của ngài là Đức Cố Tăng Thống Thích Huyền Quang và Thầy Thích Quảng Độ cùng các bậc tôn túc trong Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã không quản ngại cảnh tù đày áp bức lao khổ trong suốt cả cuộc đời của mình để mà vì nước, vì dân, vì chính pháp ?

Không lẽ Hoà thượng quên rồi sao những năm tháng ngài tu hành tại chùa Ấn Quang (1957-1965) ? Rồi còn nữa, ai đã gửi ngài đi du học tại Nhật Bản trong những tháng ngày mà Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn gặp nhiều cảnh khó khăn gian khổ (1965-1973) ?

Thế mà giờ đây Hoà thượng lại nói rằng “Gíao hội Phật giáo Việt Nam” là “duy nhất”!!! Không lẽ ngài nỡ lòng phủ nhận một giáo hội đang ngày đêm vất vả lội dòng lịch sử cùng dân tộc và đã từng dung thân ngài, cho ngài đi du học để có được như ngày hôm nay!!!

Con thiết nghĩ, các bậc tôn túc trong Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không bao giờ so sánh mình với Giáo hội Trúc Lâm cả. Các ngài chỉ quên mình mà hoằng dương chính pháp trong việc Hộ quốc, Hộ dân và Hộ pháp đúng như bổn phận của người xuất gia, truyền thừa 2000 năm giá trị Phật giáo Việt Nam của chư lịch đại tổ sư. Thế nhưng, chính trong ý nghĩa đó, mà có lẽ ai ai cũng sẽ nhận thấy chính Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là sự truyền thừa xứng đáng của Giáo hội Trúc Lâm.

Ngày hôm nay trên đất nước Việt Nam chưa có được tự do, dân chủ và nhân quyền. Thế nhưng, rồi một ngày không xa Việt Nam sẽ có những điều ấy. Hàng hậu học chúng con sẽ không bao giờ quên được những bậc tôn túc trong Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã không quản ngại cảnh tù đày khắc khổ để mà sống đạo cho đất nước Việt Nam. Con còn nhận thấy, cũng chính nhờ có những hành động và ứng xử của Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất suốt mấy chục năm qua mà Phật giáo Việt Nam ngày nay mới không bị hổ thẹn trước chư lịch đại tổ sư, trước Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, thưa Hoà thượng.

Mai này khi Việt Nam có tự do, nhân quyền và dân chủ, chúng con và các thế hệ tiếp theo phải thành kính đê đầu cảm tạ Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nhiều lắm vì trí tuệ, từ bi, uy dũng và đức hi sinh cao cả của các Ngài đã và đang đấu tranh cho dân tộc và Phật giáo Việt Nam. Con tin tưởng điều này lắm, bởi cuối cùng thì chính nghĩa sẽ thắng phi nghĩa, đó là bài học giáo đầu nằm lòng mà con được học trong ngày thọ giới quy y Phật.

Thưa Hoà thượng, con thấy Đức Bổn Sư Thích Ca, Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, và chư lịch đại tổ sư của Việt Nam đều luôn luôn dạy dỗ chúng con rằng Đạo Phật là Đạo Như thật, vậy sống và làm việc phải hướng về và y trên sự thật, nếu không thì sẽ phạm vào ít nhất là một trong Năm giới căn bản của người phật tử đó là “Không nói dối hay nói không đúng sự thật”.

Kính bạch Hoà thượng,

Những điều mà con đề cập ở trên, con thiết nghĩ sẽ còn nhiều người đồng lòng. Nay con chỉ xin mạn phép gửi đến Hoà thượng như những điều tâm sự, mong Hoà thượng ghi nhận và chỉ dạy cho con. Con lại càng mong mỏi điều này hơn khi mà bài viết trên là của Hoà thượng, là bậc thượng thủ trong “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” có nhiều uy tín và tiếng nói trong giáo hội của ngài.

Hà Nội, ngày 4/1/2009
Tuệ Nguyên

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2008

Ý kiến công luận về Chúc Thư của Hòa thượng Huyền Quang

Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA
2008-08-20





Chúc Thư của Hòa Thượng Thích Huyền Quang, đã được chính thức tuyên đọc tại Lễ Chung Thất tổ chức ở chùa Pháp Luân (Houston, Texas) hôm Chủ Nhật 17-8-2008 vừa qua.



Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống, GHPNVNTN. RFA file photo

Trong Chúc Thư gởi hàng giáo phẩm thuộc Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đề Ngày 17 tháng Giêng Năm 2005, từ Tu viện Nguyên Thiều Bình Định, cố Đệ Tứ Tăng Thống ủy thác Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, kiêm nhiệm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau khi tin Hòa Thượng Quảng Độ được cử thay thế Đức Tăng Thống đã viên tịch, được phổ biến tòan cầu, Ban Việt Ngữ chúng tôi hỏi ý kiến của một số người Việt trong và ngoài nước, do Đỗ Hiếu ghi nhận như sau:

Một vị lãnh đạo tinh thần cao niên, từng sát cánh vói hòa thượng Thích Quảng Độ trong cuộc vận động kiên trì cho quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, từ Sài Gòn, Linh mục Chân Tín bày tỏ sự vui mừng và tin tưởng rằng, vị tân Tăng Thống sẽ hoàn thành mỹ mãn sứ mạng lãnh đạo và duy trì sự trường tồn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Linh mục Chân Tín :

Tôi rất vui mừng nghe tin Ngài Quảng Độ thay thế Tăng Thống Thích Huyền Quang lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, được tất cả các tín đồ và các vị cao cấp trong Giáo Hội đề cử làm Tăng Thống. Ngài Quảng Độ đã tranh đấu với chúng tôi rất gắn bó để đòi tự do tôn giáo ở Việt Nam này và tự do nhân quyền.

Chúc mừng Ngài được thành công tốt đẹp trong việc xây dựng Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất để Giáo Hội hoàn thành sứ mạng của Phật Giáo trên đất nước này thay vì chạy theo một chế độ mà không tôn trọng gì đến tôn giáo cả, và cầu chúc hoàn thành sứ mạng mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã giao phó cho đức Tăng Thống.

Giáo sĩ Huỳnh Quốc Bình, người phụ trách chương trình Đời Sống An Bình, trên các đài phát thanh, truyền hình Việt Ngữ, từ thành phố Portland (Oregon, Hoa Kỳ) nhấn mạnh, việc cử nhiệm này sẽ tạo điều kiện cho Phật Giáo Thống Nhất vượt mọi trở ngại, trong hòan cảnh hiện giờ, để cùng với các tôn giáo khác, trong đó có Thiên Chúa Giáo, lên tiếng bênh vực cho những người bất hạnh, kém may:

Giáo sĩ Huỳnh Quốc Bình :

Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang, cố Đệ Tứ Tăng Thống, đã để lại Chúc Thư rất là quan trọng. Đây là một cái quyết định sáng suốt của Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang, bởi các vị đã có cái quá trình hành đạo và hết sức là đảm lược khi đững trước lưỡi lê nòng súng của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, mà vẫn luôn lên tiếng cáo trách họ suôt mấy thập niên qua chứ không phải là các Ngài chỉ vừa mới xuất hiện trong thời gian gần đây, hay là có những lời lẽ hoặc là hành động bợ đỡ đội lốt các tu sĩ của các tôn giáo để phá hoại hay diệt trừ các tôn giáo.

Thưa quý vị, trong cái Thông Điệp Phật Đản vừa qua người ta ghi nhận được lời căn dặn của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ gửi cho các Phật Tử, điều đó là Phật Giáo là sự đối diện chứ không quay lưng với xã hội, Phật Giáo dấn thân vào nơi tham tàn của xã hội để độ hoá nhân gian, chánh pháp không thể nở hoa nơi giang sơn nô lệ, chúng sinh không thể an lạc nơi áp bức đói nghèo.

Thưa quý vị, đây quả thật là những tư tưởng đáng cho mọi công dân Việt Nam và thế giới trân trọng, dù người đó không phải là một Phật tử hay có xu hướng Phật Giáo.

Thật ra điều này rất hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh qua lời Chúa Cứu Thế Jesus cầu xin với Chúa Cha trên Trời. Điều đó là "Con chẳng cầu Cha cất họ ra khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi điều ác".

Những gì xảy ra tại Việt Nam, nhất là các tôn giáo đang bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang áp, bị cộng sản Việt Nam can thiệp thô bạo vào các sinh hoạt của các tôn giáo, thì con chiên, tín hữu hay Phật tử lên tiếng để vạch trần những âm mưu thâm độc đó, tức là đã góp phần giảm thiểu tội ác.

Đó là hành động đạo đức, là hành động hay là phản ứng của những người có liêm sỉ và tự trọng chứ không ohải là làm chính trị gì cả. Bởi Kinh Thánh có khuyến cáo là "Kẻ biết điều lành mà chẳng làm là phạm tội", hoặc là "Hãy mở miệng con để nói thay cho những người thấp cổ bé miệng.

Bà Ngô Mai Hương, định cư tại San Diego (California, Hoa Kỳ), có thân mẫu ra Bắc thăm hòa thượng Quảng Độ, khi ngài bị đưa về quê quán quản chế ở Thái Bình cho biết, những đồng hương Phật Tử quanh mình, đều hân hoan đón nhận tin này, đồng thời tin tưởng là dưới sự lãnh đạo của vị tân Tăng Thống, Phật Giáo Thống Nhất sẽ phát huy các sinh hoạt trong tương lai:

Bà Ngô Mai Hương :

Tôi rất là vui mừng khi được hay tin là Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã thay thế Hoà Thượng Thích Huyền Quang để giữ chức vụ hiện nay của Ngài. Và rất là hoan hỉ, tôi tin rằng thầy Quảng Độ sẽ nối tiếp và sẽ giúp cho Phật Giáo Việt Nam ngày càng phát triển tốt đẹp hơn.

Chúng tôi cũng có cái giao tình lớn với thầy Quảng Độ. Tôi là một Phật tử và chúng quanh tôi cũng rất nhiều Phật tử cho nên khi nghe tin này thì chúng tôi rất là vui mừng. Không phải riêng tôi mà các bạn tôi và nhất là Mẹ của tôi.

Mẹ của tôi là người đã theo dấu Thầy (Quảng Độ) từ lúc Thầy, sau năm 1975 Thầy bị bắt đưa về Miền Bắc, rồi những câu chuyện xảy ra cho Thầy như thế nào khi Thầy bị giam cầm ở Miền Bắc. Tôi tin rằng Phật tử Việt Nam và ngay cả những người không cùng tôn giáo cũng rất hoan hỉ khi nhận được tin này, thưa anh.

Theo Giáo Chỉ ký Ngày 20 Tháng 2 - 2008, Đức cố Tăng Thống Huyền Quang suy cử Hòa Thượng Thích Hộ Giác lên ngôi vị Phó Tăng Thống.

Hiện nay, Đại Lão Hòa Thượng Thích Hộ Giác là Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, kiêm Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2008

Chúc Thư của Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang


RFA 18.08.2008
nhân danh Đệ Tứ Tăng thống, tôi viết mấy lời tâm huyết, thâm tình gửi đến chư Liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa giáo phẩm trong Hội đồng Lưỡng viện.


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

VIỆN TĂNG THỐNG

--------------------------------------------------------------------------------


CHÚC THƯ

GỞI CHƯ TÔN HÒA THƯỢNG, CHƯ THƯỢNG TỌA TRONG HỘI ĐỒNG LƯỠNG VIỆN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa Chư Liệt vị,

Do mấy chục năm dài sống trong cảnh tù đày rồi quản chế, tuy hiu quạnh, đơn chiếc, nhưng tôi vẫn tự tại vô ngại, lấy kinh sách và bộ Đại Tạng làm bạn và thầy. Tuy nhiên do thiếu thuốc men và chăm sóc, thời gian qua tôi mắc nhiều chứng bệnh. Đây cũng là lẽ vô thường, mà người tu hành chẳng bận tâm. Như chư Liệt vị đã biết tin, gần đây tôi phải nhập viện trong cơn thập tử nhất sinh. Nhưng nhờ lương y chăm sóc và chư Phật hộ trì nên thân tứ đại vẫn còn.

Nay đã xuất viện về tịnh dưỡng ở Tu viện Nguyên Thiều. Sức khỏe yếu hơn trước rất nhiều, thỉnh thoảng hay quên các chuyện vặt, nhưng tinh thần vẫn sáng suốt, minh mẫn, tuy lòng riêng khôn nguôi các Phật sự của Giáo hội chưa hoàn tất như ý nguyện.

Vào tuổi này như ngọn đèn trước gió, ngày mai ra sao khó mà biết trước. Phòng chuyện bất ngờ xẩy tới, nhân danh Đệ Tứ Tăng thống, tôi viết mấy lời tâm huyết, thâm tình gửi đến chư Liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa giáo phẩm trong Hội đồng Lưỡng viện. Mai đây dù phải xả báo thân, nhưng chí nguyện tôi vẫn cạnh kề chư Liệt vị trong công cuộc phục vụ và phát huy mạng mạch Chánh Pháp nơi trú xứ quê hương này. Nay tôi trân trọng ủy thác chư Liệt vị giáo phẩm các điều sau đây, mong mỏi chư Liệt vị hoan hỉ gia tâm tiến hành cho đến khi thành tựu sau khi tôi về cõi Phật :

1. Bằng mọi cung cách và phương tiện, phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội dân lập và truyền thống là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và hoàn thành sứ mệnh hiệp nhất với tất cả các hệ phái trên mọi miền đất nước như chư Lịch đại Tổ sư đã thực hiện từ thời Đinh đến nay. Việc thống nhất nội bộ Phật giáo phải do chư Tôn đức Tăng Ni của Giáo hội giải quyết, không ai khác làm thay được.

2. Ủy thác Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, kiêm nhiệm chức Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống để điều hành Phật sự của Giáo hội cũng như kiện toàn, chấn chỉnh, bổ sung hay hoán chuyển nhân sự sao cho Giáo hội được nhất quán, tùy duyên mà bất biến để đối ứng với mọi tình thế.

3. Trong hoàn cảnh đầy chướng duyên và pháp nạn như hiện nay, Hội đồng Lưỡng viện tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành các Phật sự của Giáo hội trong bất cứ hoàn cảnh nào ; lấy bản Hiến chương do Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ V tu chính ngày 12.2.1973 làm kim chỉ nam, chủ yếu giữ vững mục đích và lý tưởng đề ra qua Hiến chương. Các việc khác có thể tùy duyên, linh động cho đến khi hoàn cảnh cho phép tu chính thông qua Đại hội.

4. Văn phòng II Viện Hóa Đạo - Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ cùng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại các Châu đã hình thành và hoạt động kỷ cương, nền nếp từ 12 năm qua. Xin chư Liệt vị đặc biệt lưu tâm để trong ngoài hòa hiệp gây trợ duyên cho đạo Phật Việt Nam góp mặt cùng thế giới trong công cuộc tịnh hóa nhân gian, xây dựng hòa bình trước bao khuynh hướng bạo động. Riêng Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hoạt động hiệu quả từ bao năm qua, nay cố duy trì và phát huy hơn nữa trong công cuộc truyền thông, vận động quốc tế và giới thiệu Đạo Phật Việt Nam.

Nguyện cầu Tam Bảo độ trì cho toàn thể Chư Tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa trong Hội đồng Lưỡng viện phước trí nhị nghiêm, thương yêu, hiệp nhất trước mối mâu thuẫn và ly gián của thế nhân để hiển lộ Pháp tánh giác ngộ và cứu khổ. Tôi cũng nhắn nhủ đến toàn thể Chư Tăng, Ni, cùng quý vị thiện tri thức, nam nữ Phật tử trong và ngoài nước hãy cùng nhau nâng đỡ, tương trợ, giữ tâm bồ đề kiên cố làm cho giáo hội trang nghiêm và hoàn thiện một Tứ chúng biết phục vụ dân tộc và nhân loại. Ở vào thời đại nhiễu nhương, nhân tâm ly tán, đạo đức suy đồi, bè phái phân chia, tranh chấp, vị kỷ lan tràn... thì quý vị phải biết sớm khuya lo sợ, tinh tấn tu hành, để tâm lo việc cho dân chúng. Đặc biệt giới Cư sĩ, noi gương tiền nhân đảm trách các vấn đề xã hội trong tinh thần từ bi và đức tính vô úy của Phật giáo.

Được như vậy, vô thường không phân rẽ chúng ta trên bước đường hoằng hóa chúng sanh nơi cõi này và nghìn muôn cõi khác.

Nam Mô Thường Tinh tấn Bồ Tát Ma Ha Tát

P.l. 2548 – Mồng 8 tháng 12 Giáp Thân,
Tu viện Nguyên Thiều ngày 17.1.2005
Nay Chúc thư
(ấn ký)
Thích Huyền Quang

Công bố Chúc thư của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang


Hưng Yên, thông tín viên đài RFA
2008-08-18

Trưa Chủ nhật 17-8, Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN HN đã tổ chức lễ Chung thất cho Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN tại chùa Pháp Luân, Houston Texas.


AFP PHOTO/HO/International Buddhist Information Bureau (IBIB)
Hàng ngàn Tăng Ni Phật Tử khăp nơi tập trung về Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định hôm 11-7-2008 để tiễn đưa Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang đến nơi an nghỉ cuối cùng. PHOTO IBIB


Thông Tín viên Hưng Yên của ban Việt Ngữ đài Á Châu Tự Do có mặt tại chỗ ghi nhận.

Lễ chung thất Đức Đệ Tứ Tăng thống Thích Huyền Quang được cử hành theo hai truyền thống Bắc Tông và Nam Tông. Đại lão Hòa Thượng Thích Hộ Giác, Chủ tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo đã ban đạo từ ca ngợi nghị lực và lòng dũng cảm phi thường cũng như tán thán công đức của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang.

Cũng trong dịp này, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ qua máy ghi âm một lần nữa khẳng định Hội Đồng Lưỡng Viện sẽ một lòng tiếp nối tinh thần của Hòa thượng Thích Huyền Quang lúc sinh tiền để mang lại nhân quyền cho người sống và linh quyền cho người đã chết.

Di chúc của Hòa thượng Huyền Quang

thức lễ Chung thất, Văn phòng II Viện Hóa Đạo chính thức công bố hai văn kiện quan trọng của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang để lại trước khi viên tịch đó là Giáo chỉ sau cùng của Viện Tăng Thống và Chúc Thư của ngài.

Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, Phó viện trưởng Viện Hóa Đạo đã đọc Giáo chỉ được HT Thích Huyền Quang ký ngày 20 tháng 2 năm 2008 suy cử Hòa thượng Thích Hộ Giác lên ngôi vị Phó Tăng Thống GHPGVNTN.

Lễ suy tôn thực hiện ngay sau khi tuyên đọc Giáo chỉ, do Pháp sư Thích Giác Đức điều khiển.

Trong chúc thư viết ngày 17 tháng 1 năm 2005, có 4 điều chính trong đó Hòa thượng Thích Huyền Quang đã ủy thác các chư Liệt vị giáo phẩm cố gắng tiếp nối đến khi thành tựu phục hồi quyền sinh hoạt pháp lí của GHPGVNTN cũng như Ủy thác HT Thích Quảng Độ kiêm nhiệm chức Xử Lí Thường Vụ Viện Tăng Thống.



Hòa thượng Thích Quảng Độ, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh và Thượng tọa Thích Viên Định dẫn đầu đoàn Di quan Đệ Tứ Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang. AFP PHOTO/HO/International Buddhist Information Bureau (IBIB)

Sau khi HT Thích Huyền Quang viên tịch, trên mạng lưới Internet đã xuất hiện chúc thư với nội dung khác với chúc thư đã công bố ở trên. Ông Võ Văn Ái, giám đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế đã khẳng định đó là những chúc thư giả nhằm đã phá giáo hội.

Công đức vị Hòa thượng quá cố

Phật tử, đồng hương khắp nơi không phân biệt tôn giáo đã vân tập về chùa, chật kín cả chánh điện và hội trường lớn của chùa. Đặc biệt có sự hiện diện nhiều đại diện các tổ chức, hội đoàn, các vị chức sắc của các tôn giáo khác, các chính khách Hoa Kỳ.v.v…

Cả hội trường đứng lên vỗ tay với những lời phát biểu của dân biểu liên bang Al Green đã ca ngợi đức hạnh của HT Thích Huyền Quang và nỗ lực phục hoạt giáo hội của các chư tôn giáo phẩm.

Dân biểu Al Green khẳng định sẽ nỗ lực để trong cuộc đời hiện tại của ông sẽ thấy được hình ảnh một nước Việt Nam một ngày có được tự do dân chủ và GHPGVNTN được phục hoạt.

Nghị viên thành phố Chris Bell đã ca tụng những cống hiến to lớn và lòng can trường của Hòa thượng Thích Huyền Quang trong hơn 2 thập niên tranh đấu cho tự do nhân quyền tại Việt Nam:

Trước ngày diễn ra lễ Chung Thất, phật tử và đồng hương khắp nơi tề tựu về chùa Pháp Luân tấp nập hơn mọi khi với nhiều chương trình: khóa tu học, Lễ Vu Lan, và cuộc triễn lãm hình ảnh cùng với tập kỷ yếu về Cuộc đời và Hạnh trạng của HT Thích Huyền Quang đã giúp phật tử hiểu sâu sắc hơn về ngài Đệ Tứ Tăng Thống và GHPGVN TN

(Hưng Yên tường trình từ Houston, Texas.)

Hòa thượng Quảng Độ trở thành lãnh đạo cao nhất của GHPGVNTN

RFA 17.08.2008



Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ chính thức trở thành người đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một giáo hội không được Nhà Nước Việt Nam thừa nhận.


Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ. RFA file photo.

Trong một buổi lễ được tổ chức tại Houston, Texas, nhân 49 ngày, ngày mất của Tăng Thống, Đại Lão Hoà Thượng Huyền Quang, di chúc của vị Hoà Thượng từng lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được công bố, cho thấy Hoà thượng Huyền Quang chỉ định Hoà thượng Quảng Độ trong vai trò người kế vị mình.
Trong một thông điệp được thâu âm sẵn, vị Tăng Thống mới của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phát biểu rằng ngài cam kết theo đuổi ước mơ của vị tiền nhiệm, là vinh danh nhân quyền cho con người cùng dân chủ cho xã hội.

Tăng Thống Thích Quảng Độ cũng cam kết theo đuổi cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo và tự do chính trị/ trong tinh thần hoà bình.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không chấp nhận bị đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền Cộng Sản kể từ năm 1975, và chính thức bị cấm hoạt động kể từ những năm đầu thập niên 1980s.

Hàng ngàn Tăng Ni Phật Tử tiễn đưa Hòa thượng Huyền Quang về nơi an nghỉ cuối cùng

Hiền Vy, phòng viên đài RFA
2008-07-11





Tang lễ Đại Lão Hoà thượng Đệ tứ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã được cử hành tại tu viện Nguyên Thiều, Bình Định, vào sáng hôm nay thứ Sáu 11-7-2008.



AFP PHOTO/HO/International Buddhist Information Bureau (IBIB)
Hàng ngàn Tăng Ni Phật Tử tiễn đưa Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang đến nơi an nghỉ cuối cùng.



Theo tin của hãng thông tấn AFP, hàng ngàn chư Tăng Ni Phật Tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ở Bình Định và các tỉnh thành đã tụ tập về Tu viện Nguyên Thiều tiễn đưa Đức Tăng thống Thích Huyền Quang tới nơi an nghỉ cuối cùng.


Có mặt tại chỗ, nhà dân chủ Nguyễn Tiến Nam tường trình diễn tiến lễ tang, qua cuộc phỏng vấn của thông tín viên Hiền Vy.


Hòa thượng Thích Quảng Độ, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh và Thượng tọa Thích Viên Định dẫn đầu đoàn Di quan Đệ Tứ Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang. AFP PHOTO/HO/International Buddhist Information Bureau (IBIB)


Tăng Ni Phật Tử Bình Định và từ nhiều tỉnh thành trên khắp cả nước tập trung về tu viện Nguyên Thiều tiễn đưa Hòa thượng Thích Huyền Quang về nơi an nghỉ cuối cùng. AFP PHOTO/HO/International Buddhist Information Bureau (IBIB)


Vào đúng 5 giờ sáng, chư giáo phẩm Hội đồng Lưỡng Viện tề tựu quanh Kim quan Đức Tăng thống làm lễ Phát nguyện. Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện dâng lời Tác bạch trước lúc di quan.

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2008

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ



NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI
TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT




Chí Tâm Đảnh Lễ Giác Linh Cố Đại Lão Hòa Thượng
Thượng Huyền Hạ Quang Bồ Tát Ma Ha Tát


TIN BUỒN: ÐỨC TĂNG THỐNG THÍCH HUYỀN QUANG ÐÃ VIÊN TỊCH

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 5.7.2008
Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang đã viên tịch
tại Tu viện Nguyên Thiều lúc 13 giờ chiều ngày 5 tháng 7 năm 2008

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kính xin khấp báo đến chư Tôn đức Tăng, Ni, dồng bào Phật tử và đồng bào các giới Cáo Bạch sau đây của Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hoá Đạo) Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất :

CÁO BẠCH

Hội đồng Lưỡng viện Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
Môn đồ pháp quyến cùng Tăng chúng Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định

ĐAU BUỒN KHẨN BÁO:

Chư tôn giáo phẩm Hội đồng Viện Tăng thống
Ban chỉ đạo Viện hóa đạo GHPGVNTN
Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ và các Châu lục
Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni
Cùng toàn thể Phật tử các giới trong và ngoài nước



Đức Đại lão Hòa thượng thượng HUYỀN hạ QUANG, đệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN); Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định. Sau một thời gian lâm bệnh, mặc dầu đã được các y, bác sĩ, Hội đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, Môn đồ pháp quyến tận tình chăm sóc, chữa trị nhưng vì tuổi cao, sức yếu, Đức Tăng thống đã xả báo thân lúc 13 giờ 00 ngày 05 tháng 07 năm 2008 , tức mùng 03 tháng 06 năm Mậu Tý, trụ thế 89 năm, pháp lạp 69.

Lễ nhập Kim quan lúc 08 giờ 00, ngày 06-07-2008 (mùng 04 tháng 06 năm Mậu Tý) tại Tu viện Nguyên Thiều, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Lễ cung nghinh Kim quan nhập Bảo Tháp lúc 07 giờ 00 ngày 11- 07- 2008 (mùng 09 tháng 06 năm Mậu Tý) trong khuôn viên Tu viện Nguyên Thiều.

Thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện cùng Môn đồ pháp quyến, chúng tôi trân trọng cáo bạch đến chư tôn giáo phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, toàn thể Phật tử các giới trong và ngoài nước được biết và nguyện cầu giác linh Đức đệ tứ Tăng Thống CAO ĐĂNG PHẬT QUỐC.



Tu viện Nguyên Thiều, ngày 5.7.2008
TM Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN
và Môn Đồ Pháp Quyến
Viện Trưởng Viện Hóa Đạo
GHPGVNTN
Sa môn Thích Quảng Độ


Sau đây Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin cung cấp bản tiểu sử rút ngắn và sơ bộ của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang. Trong buổi Lễ Thọ tang do Văn phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức trong vài ngày tới đây, chúng tôi sẽ cung cấp Tập Kỷ Yếu về Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, qua đó bản tiểu sử đầy đủ cùng những văn kiện chính yếu mà Đức Tăng thống đã viết ra trong thời gian 33 năm của cuộc vận động dân tộc đòi phục hồi Quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN, và dân chủ, nhân quyền cho quê hương, kèm theo « Bản Tự thuật » do chính Ngài viết ra và gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến.


TIỂU SỬ ĐỨC ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG THÍCH HUYỀN QUANG

Thân thế

Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thế danh Lê Đình Nhàn, sinh ngày 8 tháng 8 Canh Thân, tức 19 tháng 9 năm 1920, tại làng Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, con thứ tư của cụ Lê Vỵ và bà Ngô Thị Tư cùng ở làng Háo Đức.

Thời niên thiếu

Năm 1925-1932 : Ngài học chữ Nho tại nhà.
Năm 1932-1935 : Ngài thụ giáo với Hòa thượng Vĩnh Khánh, được ban pháp danh Như An, pháp tự Giải Hòa. Thọ sa-di giới năm 1935, thủ khoa trong tập chúng.
Năm 1935-1937 : Hòa thượng Vĩnh Khánh viên tịch (30.9.1935), Ngài đầu giáo Hòa thượng Bích Liên và được phú pháp hiệu Huyền Quang, pháp danh Ngọc Tân, pháp tự Tịnh Bạch.

Do tư chất đặc biệt xuất chúng, mà Ngài được đặc cách miễn tuổi để thọ Tam đàn Cụ túc và Bồ tát giới vào năm 17 tuổi (1937) tại giới đàn chùa Hưng Khánh, thuộc quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định, do Hòa thượng Chí Bảo làm Đàn đầu. Kỳ sát hạch này Ngài đậu thủ khoa.

Năm 1938 đến 1945, Sau khi học xong ở Phật học đường Lưỡng Xuyên, tỉnh Trà Vinh, Ngài ra đất Thần kinh Huế tòng học tại Phật học đường Báo Quốc cùng với các Pháp hữu Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Minh, v.v...

Công nghiệp Hoằng hóa lợi sanh

Tháng 8 năm 1945, Ngài tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc ở Liên khu 5, giữ chức vụ Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5. Do Ngài tổ chức cơ sở Phật giáo quy mô nên bị chính quyền cách mạng lâm thời nghi kỵ và theo dõi.

Đầu năm 1951, Ủy ban Kháng chiến liên khu 5 tuyên bố : “Sinh hoạt Phật giáo phải theo mô thức Hội đoàn”. Ngài lên tiếng phản đối : “Phật giáo chúng tôi là một tôn giáo quy tụ đủ mọi thành phần trí thức, nông dân, nam, phụ, lão, ấu, không thể xem như hội đoàn. Vì phê phán như vậy, ngài bị bắt, bị an trí ở Phù Mỹ, rồi Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, tổng cộng 4 năm trời ! Một tháng trước ngày đình chiến theo Hiệp định Genève (20.7.1954) Ngài được trả tự do.

Năm 1955 đến 1957, Ngài làm Giám đốc Phật Học Đường Trung phần ở chùa Hải Đức, Nha trang.

Năm 1958 Ngài khai sáng Tu viện Nguyên Thiều, thành lập Phật học viện Nguyên Thiều do Ngài làm Giám viện cho đến ngày nay.

Năm 1958 đến 1962, Ngài giữ chức Phó Hội Trưởng Hội Phật Học Trung Phần kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo Thừa thiên - Huế, văn phòng đặt tại chùa Từ Đàm. Sau đó Ngài làm Hội Trưởng Hội Phật Giáo Bình Định.

Năm 1963 Ngài tham gia cuộc vận động giải trừ Pháp nạn và yêu sách xóa bỏ Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc liệt Phật giáo vào quy chế Hiệp hội. Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ra đời lãnh đạo cuộc đấu tranh. Uỷ ban do Hòa Thượng Thích Tâm Châu làm Chủ tịch, cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh làm Phó chủ tịch, Ngài làm Tổng thư ký kiêm Trưởng khối Soạn thảo tài liệu đấu tranh và Phổ biến ra toàn quốc.

Vào nửa đêm 20.8.1963, Chính quyền Ngô Đình Diệm tung "Kế hoạch Nước lũ" bố ráp Tăng, Ni trên toàn quốc, tập trung đặc biệt vào hai thành phố Saigon và Huế, Ngài bị bắt cùng với hàng nghìn Tăng Ni. Sau chính biến 1.11.1963, Ngài mới được trả tự do.

Cuộc đấu tranh hoàn tất, Đại hội Phật giáo toàn quốc tổ chức tại Saigon từ 31.12.63 đến 4.1.64, và do Dụ số 10 đã hủy bỏ, nên danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được ra đời, kế tục công cuộc truyền thừa Chánh pháp của "Giáo hội Dân lập" từ xưa và "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" trước đây. Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Tổng thư ký Viện Hóa Đạo kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Cư sĩ.

Năm 1964, Ngài đi Thái Lan tiếp xúc và liên lạc các chùa Việt ở thủ đô Bangkok đồng thời hành hương các thánh tích, thắng cảnh Phật giáo Thái.

Năm 1970, Ngài đại diện Viện Hóa Đạo tham dự Đại Hội Các Tôn Giáo Thế Giới vì Hòa bình lần thứ nhất tại Nhật Bản. Đại hội này do các tôn giáo lớn như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, v.v... chủ trì.

Năm 1971, Ngài đi hành hương Ấn Độ, chiêm bái các Phật tích.

Năm 1972, Ngài sang Genève tham dự Đại Hội Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới ở Thụy Sỹ. Hội Đồng này do Tin Lành giáo Thế giới chủ trì. Đại Hội bàn việc hòa bình cho Việt Nam và cứu trợ nạn nhân chiến tranh.

Năm 1974, Ngài cùng Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh sang thủ đô Bruxelles ở Bỉ dự lần thứ 2 Đại hội các Tôn giáo Thế giới vì Hòa Bình do các tôn giáo lớn như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, v.v... chủ trì.

Ngày 27.12.1974, Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ 6 tổ chức tại Saigon cung thỉnh Ngài vào chức vụ Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo.

Sau năm 1975, do chính sách Cộng sản đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chiếm dụng tất cả các cơ sở của Giáo hội, từ chùa viện cho đến các cơ sở giáo dục văn hóa và xã hội từ thiện, khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể để phản đối vào ngày 2.11.1975 tại Thiền viện Dược sư, ấp Tân Long, xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ. Ngài cử Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, dẫn đầu một phái đoàn về Cần Thơ lập hồ sơ. Nhưng toàn bộ hồ sơ gồm các chứng liệu, băng từ ghi 7 lời thỉnh nguyện của Đại đức Thích Huệ Hiền trước khi tự thiêu, hình chụp và phim quay tại hiện trường đều bị công an tịch thu.

Ngày 3.3.1977, nhà nước tiến thêm một bước chiếm dụng Cô Nhi viện Quách Thị Trang ở Saigon, Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư tôn đức Tăng, Ni, Phật tử phát động cao trào đòi hỏi Nhà nước cộng sản hoàn trả tài sản của Giáo hội. Cuộc đấu tranh gay go và bị Nhà cầm quyền thẳng tay đàn áp.

Ngày 6.4.1977, Ngài bị bắt và bị biệt giam tại Nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu, Quận Bình Thạnh ở Sàigòn cùng với cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Quảng Độ, v.v... Do áp lực quốc tế và sự phản đối của đồng bào Phật tử trong và ngoài nước, nên sau 18 tháng tù giam, ngày 10.12.1978 Nhà cầm quyền cộng sản đưa ngài ra Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử, kêu án 2 năm tù treo và quản chế tại chỗ.

Năm 1978, hai Giải Nobel Hòa bình người Ái Nhĩ Lan là bà Mairead Corrigan và bà Betty Williams viết thư cho Uỷ ban Nobel Hoà bình đề nghị Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình.

Do phản đối Đảng và Nhà nước thiết lập vào cuối năm 1981 một Giáo hội Phật giáo làm công cụ chính trị phục vụ Đảng và chia rẽ nền Phật giáo dân tộc, nên Ngài cùng Hòa thượng Thích Quảng Độ bị bắt ngày 25.2.1982 và bị trục xuất khỏi thành phố Saigon, đưa Ngài ra quản chế tại chùa Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi. Tại Quảng Ngãi, Ngài nhận lệnh Công an : cấm hành nghề Tôn Giáo, cấm phiên dịch và các nghề nghiệp khác. Tại đây Ngài bị nhà đương quyền quyền đối xử tồi tệ.

Kể từ năm 1990, các Nhóm Ân xá Quốc tế thuộc 5 quốc gia Vương quốc Bỉ, Canada, Pháp, Áo, Hoà Lan và Hoa Kỳ ghi danh Ngài như Người tù vì lương thức để bêng vực bằng cách gửi liên tục hàng chục nghìn bức thư cho nhà cầm quyền Hà Nội để đòi hỏi trả tự do cho Ngài.

Năm 1992, Cố Đại Lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đệ Tam Tăng Thống Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đau nặng, sắp ra đi về cõi Phật, nên để lại Di chúc cung thỉnh Ngài vào chức vụ Xử lý Hội đồng Lưỡng viện kiêm Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, để hướng dẫn việc đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và tìm thuận duyên tổ chức Đại hội Giáo hội kỳ VIII.

Ngày 21 tháng 3 Nhâm thân, tức 23.4.1992, Đức Đệ Tam Tăng thống Thích Đôn Hậu viên tịch tại chùa Linh Mụ. Ngài xin ra Huế dự đám tang, nhưng chính quyền Quảng Ngãi không cho đi. Ngài tuyên bố : “Nếu chính quyền Quảng Ngãi ngăn cấm tôi ra Huế dự tang lễ, tôi sẽ tuyệt thực vô thời hạn, và sẵn sàng cúng dường thân này lên Chư Phật và tạ lỗi với Cố Đại Lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, bởi vì tôi đã không làm tròn nhiệm vụ mà Hòa Thượng giao phó”. Sau hai ngày tuyệt thực, chính quyền đành phải để cho Ngài ra Huế.

Hòa thượng Thích Nhật Liên, Trưởng tử của Môn đồ hiếu quyến Đức Đệ Tam Tăng thống, trao lại cho Ngài ấn tín Giáo hội và Di chúc của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Ngài dâng lời Tác bạch trước kim quan Đức Đệ Tam Tăng thống với lời hứa linh thiêng : "Dầu sẽ có muôn ngàn khó khăn, ngài không bao giờ chồn bước, quyết vận động đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản phải để cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý như trước năm 1975".

Ngày 25.6.1992, Ngài viết Yêu sách 9 điểm, dài 9 trang, gửi 6 cơ quan lãnh đạo Nhà nước nói lên thảm trạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị kỳ thị và đàn áp trong suốt 18 năm ròng rã, tố giác việc tù đày, khủng bố hàng giáo phẩm như Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Quảng Độ, v.v... , tố giác Đảng và Nhà nước dựng lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm công cụ chính trị cho Đảng với manh tâm chia rẽ khối Phật giáo dân tộc và tiêu diệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Yêu sách 9 điểm mở đầu cuộc vận động Giải trừ Pháp nạn.

Ngày 15.11.1992, Ngài viết "Đơn bổ túc Đơn đề ngày 25.6.1002 trình bày các việc liên hệ Mặt trận Tổ quốc". Văn kiện này gửi Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc và đồng kính gửi Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch Nước, Thủ tướng và Viện trưởng Tối cao Pháp viện. Ngài nhắc đến các lần ngài bị bắt và bị tố khổ từ những năm 50 tại Liên khu 5 cho đến ngày hôm nay.

Ngày 17.8.1992, từ Hà Nội, Ông Phan Văn Tánh, Trưởng ban Dân vận Trung ương gửi cho các Ban Dân vận, các Tỉnh ủy và Thành ủy một tài liệu "Mật" mang số 125/TUDV "về việc Huyền Quang và số phần tử hoạt động chống đối", nhằm chỉ thị cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tố cáo Ngài, và chỉ thị cho công an địa phương, đặc biệt ở Quảng Ngãi, theo dõi quan hệ trong và ngoài nước của Ngài, kiểm soát và "đấu tranh mạnh mẽ hơn" đối với Ngài.

Ngày 18.8.1992, một tài liệu "Tuyệt mật" mang số 106/PA 15-16 của Bộ Nội vụ đưa ra 5 biện pháp đấu tranh chống Phật giáo : "1. Phân hóa cao hàng ngũ giáo sĩ ; 2. tranh thủ số có xu hướng tiến bộ, lôi kéo số lưng chừng, răn đe những đối tượng có biểu hiện tiêu cực ; 3. đối với số cực đoan chống đối phải cắt đứt chân tay, lấy giáo luật, pháp luật đấu tranh, không cho chúng co cụm chống phá ta ; và 4. thúc đẩy phong trào cách mạng trong vùng giáo, củng cố được nòng cốt, cốt cán của ta đặc biệt trong Tăng tín đồ Phật giáo (mà sau này họ gọi là đặc tình, tình báo làm công tác đặc biệt)". Trọng tâm tài liệu nhắm vào Ngài.

Ngày 4.8.1993, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nêu ra 6 điều kết tội Ngài, đồng thời cấm Ngài không được sử dụng chức vụ Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, không được sử dụng chùa Hội Phước làm trụ sở Văn phòng Lưu vong Viện Hóa Đạo, và bắt phải giao nộp khuôn dấu Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ngày 20.11.1993, Ngài viết "Tuyên cáo Giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn", với nhận thức quốc nạn chưa giải trừ thì pháp nạn không thể giải quyết. Ngài đưa ra 12 điểm phê phán khách quan về sự bế tắc của tình hình Việt Nam do Nhà nước cộng sản gây ra. Rồi Ngài đề xuất 9 biện pháp trị liệu, kêu gọi Đảng và Nhà nước "Sám hối với người chết trong tinh thần hứa lo cho người sống được sống người", "bỏ điều 4 trên Hiến pháp" và tổ chức "bầu lại Quốc hội với sự tự do tham gia ứng cử của toàn dân không phân biệt chính kiến, đảng phái, tôn giáo dưới sự giám sát của LHQ".

19.10.1998 Giáo sư Abdelfatah Amor, Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm tự do tôn giáo trên thế giới đến Việt Nam điều tra tình hình đàn áp tôn giáo đã yêu cầu gặp Ngài tại Quảng Ngãi nhưng nhà cầm quyền Hà Nội không cho phép.

Ngày 10.5.1998, bốn Giải Nobel Hòa bình gồm có Đức Dalai Lama (Tây Tạng), Bà Mairead Maguire (Ái Nhĩ Lan), Nhà Bác học Francois Jacob (Pháp) và Luật sư José Ramos-Horta (Đông Timor) thành lập "Ủy ban các Nhà lãnh giải Nobel Vận động trả tự do cho Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ", và viết thư chung vào đúng ngày Phật đản 2542, 10.5.1998, gửi Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Phan Văn Khải yêu sách trả tự do cho hai Ngài và hàng giáo phẩm Phật giáo.

Ngày 12.12.1999, ông David Young, Tham tán Chính trị tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội vào Quảng Ngãi vấn an Ngài. Đây là người Tây phương đầu tiên được viếng thăm Ngài và hỏi han tình hình Phật giáo sau 17 năm Ngài bị cấm cố, mở đầu cho những tiếp xúc khác với Tây phương sau này.

Ngày 21.4.2000, Ngài viết bức thư dài gửi Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch Quốc hội Nông Ðức Mạnh, đề nghị Đảng và Nhà nước lấy ngày 30 tháng Tư làm "Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc". Sám hối trước sự chết chóc qua các chiến cuộc của hàng triệu Bộ đội miền Bắc và Binh sĩ miền Nam, hàng trăm nghìn nạn nhân chết trong cuộc Cải cách Ruộng đất, Tổng tiến công Tết Mậu Thân tại Huế, và các cuộc hành quyết trong các Trại Cải tạo sau năm 1975. Sám hối với người chết và Chúc sinh người sống, trong nghĩa Linh quyền cho người chết và Nhân quyền cho người sống. Ngài đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trả tự do cho tất cả tù nhân vì lương thức, và bải bỏ Nghị định quản chế hành chính 31/CP.

Tháng 4 năm 2001 do Tổ Hành động chống bắt bớ trái phép của LHQ (UN Working Group on Arbitrary Detention) phúc trình, Uỷ hội Nhân quyền LHQ tuyên bố Quan điểm số tham chiếu 4/2001 công nhận Ngài và Hoà thượng Thích Quang Độ là hai tù nhân tôn giáo bị bắt bớ trái phép. Do nhà cầm quyền Hà Nội hồi âm thư LHQ nói hai ngài vẫn được tự do trái với sự thực, nên vài năm sau, ngày 25.5.2005 Uỷ hội Nhân quyền LHQ lại một lần nữa xác nhận Ngài và Hoà thượng Thích Quang Độ là hai tù nhân tôn giáo bị bắt bớ trái phép (Quan điểm số tham chiếu 18/2005).

Ngày 11.2.2003, Ủy viên Đối ngoại của Hội đồng Châu Âu, ông Chis Patten tuyên bố : “Hội đồng Châu Âu và các Quốc gia thành viên kêu gọi Nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, yêu cầu Hà Nội để cho các nhà ngoại giao thuộc phái đoàn Liên hiệp Châu Âu tại Việt Nam đến thăm viếng hai Hòa thượng lãnh đạo Phật giáo.

Tháng 3 năm 2003, Ngài bị khối u gần mắt có nguy cơ ung thư, bệnh viện Quảng Ngãi không đủ phương tiện giải phẫu, Ngài muốn vào Saigon chữa trị. Nhưng bệnh viện Quy Nhơn và cơ quan công quyền tự ý tổ chức cho Ngài ra Hà Nội. Thời gian điều trị ở bệnh viện K ở đường Quán Sứ, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, các viên chức cao cấp Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và Liên hiệp Châu Âu đến vấn an Ngài bên giường bệnh.

Ngày 17.3.2003, 31 vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu viết thư cho Nhà cầm quyền Hà Nội yêu cầu để cho họ đến Việt Nam thăm bệnh Ngài và viếng thăm Hòa thượng Thích Quảng Độ. Đầu tháng tư, 37 Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ cũng viết thư yêu sách Hà Nội trả tự do cho Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ.

Trước mối quan tâm tha thiết của công luận quốc tế, chiều ngày 2.4.2003, Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp Ngài tại Văn phòng Chính phủ. Trong câu chuyện, Ngài hỏi Thủ tướng lý do Đảng và Nhà nước ngăn cấm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hoạt động ? Lý do bắt bớ Ngài từ dưới thời Việt Minh ở Liên khu 5 ? Lý do bắt giam Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng nhiều vị tôn túc Tăng Ni và Phật tử ? Rồi Ngài yêu cầu Thủ tướng giải quyết việc phục hồi quyền sinh hoạt cho Giáo hội bị ngăn cấm gần ba mươi năm qua. Thủ tướng Phan Văn Khải không trả lời dứt khoát, đổ lỗi cho cán bộ thừa hành cấp dưới và tuyên bố : "Chúng tôi cũng biết có sai lầm, xin Hòa thượng từ bi hoan hỷ".

Sáng ngày 7.4.2003, Ngài đáp chuyến xe lửa Hà Nội - Saigon xuôi Nam. Đến ga Huế vào lúc 10 giờ 13 phút. Dù Ngài không thông báo trước, nhưng vừa bước xuống tàu Ngài đã thấy 2000 Tôn đức Tăng Ni, Phật tử Huế cung nghênh tiếp đón giữa rừng người áo vàng, áo tràng lam, hàng trăm bó hoa khoe sắc vẫy cao, chen cùng cờ Phật giáo năm màu phấp phới. Ngày hôm sau, Ngài đến đảnh lễ trước tháp Đức Cố Đệ Tam Tăng thống Thích Đôn Hậu, trước tháp Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, và thăm các Tổ đình ở đất Thần kinh, ân cần nhắn nhủ chư Tăng Huế trên bước đường tu và hành đạo.

Ngày 9.4.2003, Ban Giám đốc Quỹ Cứu Người Lâm Nạn (People in Need) tại thủ đô Praha, Tiệp, do cựu Tổng thống Vaclav Havel chủ trì, quyết định trao Giải Nhân quyền cho Ngài, Hòa thượng Thích Quảng Độ để biểu tỏ lòng kính trọng và sự hậu thuẫn hai Nhà đối kháng cho Dân chủ tại Việt Nam đang kiên trì bằng con đường bất bạo động Phật giáo nhằm chuyển hóa dân chủ trên đất nước họ. Giải này mang tên "Người cho Người" (Homo Homini), phát hằng năm cho những nhà đấu tranh nổi danh cho nhân quyền và dân chủ trong thế giới.

Ngày 1.5.2003, Ngài vào Saigon, dự tính về chùa riêng ở Saigon, nhưng Nhà cầm quyền chỉ định Ngài phải về tá túc chùa Ấn Quang và ra lệnh cho Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố đón tiếp Ngài. Không ai loan báo trước, nhưng trên một nghìn chư Tăng Ni, Phật tử đã tự động đến chùa Ấn Quang gặp ngài.

Trong thời gian ở Saigon, ba lần (ngày 3, ngày 9 và 12.5.2003), Ngài đến Thanh Minh Thiền viện vấn an Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đang bị nhà cầm quyền cách ly không cho tiếp xúc với bất cứ ai. Hai Ngài xa cách nhau bao nhiêu năm ròng vì án lệnh quản chế và tù đày, nay mới được trực tiếp bàn thảo việc chấn chỉnh nội bộ Giáo hội sau thời gian dài bị tê liệt vì ngoại chướng.

Ngày 9.5.2003, vào lúc 16 giờ, Bà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon, Emi Lynn Yamauchi, đến vấn an Ngài. Cùng đi có ông Marc Forino, Cố vấn Chính trị, và bà Laura H. Kirkpatrick, Cố vấn Kinh tế.

Thành hội Phật giáo Nhà nước long trọng mời Ngài ở lại Saigon tham dự lễ Phật Đản, nhưng Ngài từ khước và trở về Tu Viện Nguyên Thiều vào ngày 14.5.2003, cưu mang những dự án mới chấn chỉnh giáo hội.

Ngày 18.9.2003, Hòa thượng Thích Quảng Độ ra Tu Viện Nguyên Thiều thăm Ngài và ở lại 3 tuần lễ. Thời gian này nhiều phái đoàn chư Tăng các tỉnh miền Trung và miền Nam nghe tin cũng tấp nập về Bình Định vấn an, thỉnh ý cho việc phục hưng Giáo hội. Nhân đó hai Ngài họp bàn việc bổ sung nhân sự vào Hội Đồng Lưỡng Viện trong Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng như tại các cơ sở địa phương.

Ngày 1.10.2003, Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ tổ chức Đại hội Bất thường tại Tu viện Nguyên Thiều. Lần đầu tiên có sự tham dự đông đảo của 60 chư Tăng đại diện các tỉnh về dự. Đại hội Bất thường thành công viên mãn với sự thỉnh cử 41 Hòa thượng, Thượng tọa vào hai Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo. Mấy lời ứng khẩu của Ngài trong lễ bế mạc Đại hội gây hưng phấn cho tất cả các đại biểu :

"Bao năm khó khăn quý vị biết rồi. Khó khăn từ cán bộ cao cấp cho đến cán bộ cơ sở. Nhưng mà thời gian đã gỡ rối các sự khó khăn đó cho chúng ta trong thời gian qua. Và trong tương lai, nếu còn gì khó khăn nữa, dù chúng ta không chờ cái đó, nhưng mà nếu cái đó không may xảy đến, thì chúng ta phải dạn dĩ chịu đựỉng và tiếp tục chịu đựng, để chúng ta có mặt với Giáo hội.

"Chúng ta làm thế nào cho đạo Phật phát triển hơn nữa, đạo Phật phát triển hơn nữa không giành quyền lợi của ai, không chiếm địa vị của ai, mà chỉ đem đạo Phật - đạo Từ Bi Hỷ Xả - giải thoát đau khổ cho chúng sinh nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng.

"Mong rằng tất cả những khó khăn trong tương lai, sẽ còn có ít nhiều chứ không phải không có, nhưng chuyện đó đối với chúng ta, chúng ta đã dày dạn lắm rồi. Không có gì phải ngại, không có gì phải bỏ cuộc. Mong rằng Đại hội đem lại cho quý vị một Niềm Tin mới sau mấy mươi năm không hoạt động và đầy gian lao, đầy tù tội cùng khắp trên đất nước.

"Thưa quý vị, chúng ta là những người có thể nói rằng, chúng ta có thể bỏ danh, bỏ lợi, bỏ quyền, bỏ thế, thì chúng ta cũng chẳng ngại gì những khó khăn trong tương lai, nếu có. Trông mong quý vị nhất tâm và tích cực hơn nữa để giữ Giáo hội có mặt với dân tộc".

Ngài ban Giáo chỉ cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hải ngoại tại Hoa Kỳ - Văn phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo hội tại các Châu tổ chức Đại hội để nối tiếp khai triển và kết thúc các công tác đề ra tại Tiền đại hội bất thường tổ chức trong nước ở Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định hôm 1.10.2003.

Công việc đang tiến hành tốt đẹp, thì Hòa thượng Thích Quảng Độ bị công an làm khó dễ buộc phải rời Tu viện Nguyên Thiều về lại Sàigòn. Hòa thượng đành ra về ngày 8.10.2003, Ngài cùng đi với Hòa thượng Quảng Độ và chư Tăng giáo phẩm.

Ngày 9.10.2003, xe chạy đến Lương Sơn cách thành phố Nhatrang 40 cây số, thì công an chận bắt tất cả mười vị và hai Phật Tử. Sáu công an và đại diện Mặt trận thay phiên nhau hỏi cung và khám xét thân thể Ngài một cách bất lịch sự trong vòng 8 tiếng đồng hồ, cho đến lúc Ngài đuối sức, khàn cả tiếng, họ mới cho lệnh dẫn độ Ngài về lại Tu viện Nguyên Thiều vào lúc 23 giờ 30 khuya.

Ngày 21.10.2003, Giám đốc Công an Bình Định đến yêu cầu Ngài từ nhiệm mọi chức vụ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chấm dứt liên lạc với Hòa thượng Thích Quảng Độ, thì Nhà nước sẽ mời Ngài ra thăm Hà Nội trở lại để bàn tính việc hợp tác với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và sẽ trao cho Ngài những chức vụ cao cấp. Ngài khước từ.

Trong khi ấy, rộng khắp từ trong nước ra đến hải ngoại và quốc tế, một phong trào phản đối nổi lên, đồng loạt tổ chức tuyệt thực phản kháng trước các tòa Đại sứ, Lãnh sự quán của Cộng sản Việt Nam liên tục trong nhiều tuần lễ với khầu hiệu : "Đừng sợ nữa, hãy dõng mãnh và Vô úy đưa con thuyền Giáo hội lướt qua phong ba bão táp !".

Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kết hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ – Văn phòng II Viện Hóa Đạo mở cuộc vận động khẩn cấp và sâu rộng tại Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội châu Âu đưa tới thành quả là ngày 19.11.2003 Hạ viện Hoa Kỳ thông qua với đa số áp đảo "Quyết nghị 427" tán thán sự kiên cường của hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một Giáo hội dân lập và có truyền thống 2000 năm lịch sử, và yêu sách Nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ và chư tôn giáo phẩm trong Hội động Lưỡng viện cũng như phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. 24 giờ đồng hồ sau, ngày 20.11.2003, Quốc hội Âu châu thông qua Quyết nghị tương tự với đa số tuyệt đối.

Ngày 28.4.2004, vào lúc 10 giờ 50 sáng, ông Raymond Burghart, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng phu nhân đến Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định vấn an Ngài và hàn huyên thân mật trên một tiếng đồng hồ. Ngài nhân danh Giáo hội ngỏ lời cám ơn ông Đại sứ, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ đã lưu tâm đến vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt đã không ngừng lên tiếng bênh vực mỗi khi Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ lâm nạn.

Ngày 15.9.2004 Ngoại trưởng Hoa Kỳ Colin L. Powell công bố đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo trong thế giới "đặc biệt cần quan tâm", vì Việt Nam "dùng các biện pháp độc tài toàn trị hay độc đoán để kiểm soát những hoạt động tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo". Các nước bị liệt kê vào danh sách đen sẽ bị Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp chế tài trên lĩnh vực kinh tế và tài chánh, nếu không chịu thay đổi chính sách đàn áp tôn giáo.

Ngày 18.11.2004, Ngài bị xuất huyết dạ dày nặng nên phải vào Bệnh viện Đa khoa ở Quy Nhơn cấp cứu. Các chùa viện trong và ngoài nước đồng loạt làm lễ cầu an cho Ngài. Cảm động nhất là ở hải ngoại nhiều Phật tử đã mua chim, cá phóng sinh để cầu nguyện cho Ngài sớm bình phục.

Ngày 21.11.2004, Tân Đại sứ Hoa Kỳ, ông Michael W. Marine cùng với phu nhân từ Hà Nội vào bệnh viện Đa khoa ở Quy Nhơn thăm bệnh Ngài. Cùng ngày này, tại Saigon, Phái đoàn Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đến vấn an Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tại Thanh Minh Thiền viện trong vòng hai tiếng đồng hồ.

Ngày 22.11.2004, Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng với phái đoàn Hội đồng Lưỡng viện lên đường đi Bình Định thăm Ngài trong cơn thập tử nhất sinh. Nhưng công an đã chận xe tại Trảng Bom, cách Saigon 50 cây số, giữa rừng cao su vắng vẻ, áp tải phái đoàn về lại Saigon.
Ngày 31.11.2004, Ngài xuất viện về tịnh dưỡng tại Tu viện Nguyên Thiều, sức khỏe còn rất yếu nhưng đã thoát khỏi cơn hiểm nghèo.

Ngày 21.2.2005, Ngài viết Thư Ngỏ gửi đến các ông : Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Đảng, Trần Đức Lương, Chủ tịch Nước, Phan Văn Khải, Thủ tướng, và Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc hội. Qua Thư Ngỏ, Đức Tăng thống ngạc nhiên nhận định một điều mâu thuẫn đang xẩy ra khi thấy Nhà nước tiếp tục đàn áp GHPGVNTN, nhưng lại đón tiếp phái đoàn Sư Ông Nhất Hạnh về Việt Nam . Cuối thư Ngài yêu cầu “Đảng và Nhà nước minh bạch hóa trường hợp quản chế tôi và Hòa thượng Thích Quảng Độ bằng khẩu lệnh kể từ vụ bắt bớ tùy tiện chúng tôi ngày 9.10.2003 tại Lương Sơn”.

Ngày 20.3.2005, Ngài trực tiếp gọi điện thoại cho Ban Trị sự Giáo hội Nhà nước tỉnh Bình Định thông báo rằng Ngài không tiếp Sư Ông Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng thân Làng Mai theo lời yêu cầu của Sư Ông ngỏ ý muốn đến Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định đảnh lễ Ngài.
Ngày 8.8.2005 nghe tin quân khủng bố đánh bom tại thủ đô Luân Đôn gây chết chóc thảm khốc cho nhân dân Anh, Ngài viết thư chia sẻ gửi Nữ hoàng Elisabeth Đệ nhị. Sang ngày 15.8, Nữ hoàng đã gửi thư cảm tạ Ngài.

Ngày 18.8.2005, Công an và Ban tôn giáo chính phủ đến Tu viện Nguyền Thiều “làm việc” với Ngài, cấm không cho Ngài tiếp các phái đoàn, đặc biệt không được tiếp ngài Quảng Độ. Ngài viết bức thư gửi Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo căn dặn việc Phật sự : “Hòa Thượng hãy tùy hoàn cảnh, điều kiện, mà thêm bớt, thay đổi, bổ sung, củng cố lại các thành viên trong Hội đồng Lưỡng viện sao cho phù hợp với tôn chỉ để bảo toàn Giáo hội là được, chứ hoàn cảnh bây giờ và nhiều năm sau này nữa cũng chưa tổ chức Đại hội được đâu. Có lẽ hết đời mình cũng chưa Đại hội được đâu. “Nhưng chúng ta đừng lo. Chánh quyền nào cũng nói muôn năm nhưng có chánh quyền nào muôn năm đâu ? Còn Phật giáo đâu có nói muôn năm nhưng Phật giáo đã mấy ngàn năm rồi”.

Ngày 1.12.2005, Quốc hội Châu Âu ra Quyết nghị yêu cầu Việt Nam “chấm dứt mọi hình thức đàn áp các thành viên thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và chính thức công nhận quyền hiện hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất(…) đặc biệt là trả tự do cho nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, hai Hòa thượng đã được LHQ xác nhận là nạn nhân bị giam cầm trái phép”.

Ngày 21.9.2006, ông Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Công an từ Hà Nội vào thăm Ngài. Ông ngỏ lời khuyên Ngài “nay tuổi đã già nên tịnh dưỡng, không nên nhọc công lo việc Giáo hội, để cho giới trẻ cáng đáng”. Ông Thứ trưởng Công an cũng khuyên “nếu ông Quảng Độ có ra thăm cũng không nên bàn chuyện Giáo hội”. Ngài liền đáp : "Chí nguyện suốt đời tôi là phục vụ dân tộc, phục vụ đạo pháp, phục vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho đến hơi thở cuối cùng. Không ai có thể ngăn cấm tôi và Hòa thượng Thích Quảng Độ bàn bạc chuyện Phật sự của Giáo hội".

Ngày 22.9.2006, Đức Tăng Thống lâm bệnh, chóng mặt và khó thở. Đến ngày 25.9 thì tình hình khẩn cấp nên chư Tăng ở Tu viện Nguyên Thiều đưa ngài vào bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn lúc 16 giờ. Bác sĩ cho biết ngài bị suy tim và viêm phổi. Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo đã cấp tốc triệu tập buổi họp khẩn lấy quyết định thỉnh Đức Tăng thống vào Saigon chữa trị. Ngày 29.9.2006 Ngài vào đến bệnh viện Chợ Rẫy ở Chợ Lớn. Ở hải ngoại, hàng trăm chùa viện tổ chức lễ Cầu an cho Đức Tăng thống sớm bình phục.

Ngày 1.10.2006, Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tăng giáo phẩm trên 20 vị và đông đảo Phật tử đã đến bệnh viện Chợ Rẫy ruớc Ngài về điều trị ở bệnh viện Pháp Việt, tọa lạc tại số 6 đường Nguyễn Lương Bằng, Phường Tân Phú, thành phố Saigon.

Ngày 16.10.2006, sau khi khám tổng quát, các bác sĩ ở bệnh viện Pháp Việt đồng ý để Đức Tăng thống xuất viện về tịnh dưỡng tại Chùa Giác Hoa ở Quận Bình Thạnh, Saigon. Một thời gian sau Ngài trở về Tu viện Nguyên Thiểu, tỉnh Bình Định, chờ ngày 30.12.2006 trở lại Saigon tái khám. Nhưng ngày 2.1.2007 Công an tỉnh Bình Định không cho Ngài đi.

Ngày 5.5.2007, Báo An Ninh Thế giới của Bộ Công an số 651, cho đăng ở trang nhất bài "Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thăm Hòa thượng Thích Huyền Quang: Một cuộc gặp gỡ thân tình và cởi mở" nhân ngày kỷ niệm 30.4.2007. Bài này nhắm mạ lị Cư sĩ Võ Văn Ái và Hoà thượng Thích Quảng Độ “hoạt động chống phá chính quyền, làm giả di chúc và soạn thảo Thông điệp Phật Đản Phật lịch 2551, với nội dung sai sự thật, kích động chống chính quyền". Nhưng qua điện đàm, Ngài cho Đạo hữu Võ Văn Ái, Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế biết rằng : “Thầy có tiếp họ chừng nửa giờ. Xã giao qua về, không có việc gì khác. Họ có tuyên bố Thầy muốn đi đâu cũng được không ai ngăn cấm. Trước đây, hai lần họ mời Thầy ra làm Trú trì chùa Sóc Sơn (ở miền Bắc). Nhưng Thầy không đi. Ra ngồi đó để ở tù như hồi ở Nghĩa Hành trước đây hay sao ?! Thầy không đi. Các điều in trên báo là họ đặt bày để phá mình. Ngoài đó đừng có tin. Anh Ái dặn quý Thầy và Phật tử đừng có tin".

Ngày 29.8.2007, Thiếu tướng Trần Tư, Cục trưởng Cục A41 (tức Cục An ninh xã hội theo dõi và kiểm soát các tổ chức tôn giáo) từ Hà Nội vào Bình Định gặp Ngài tại Tu viện Nguyên Thiều để nói lên ba việc : thứ nhất, phản đối việc ủy lạo và cứu trợ Dân oan khiếu kiện hôm 17.7 của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ; thứ hai, cấm Đức Tăng thống không được tổ chức Đại hội Phật giáo tại Tu viện Nguyên Thiều; và thứ ba, ngỏ lời mời Đức Tăng thống ra Hà Nội thăm viếng, nhân dịp gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và tham dự Đại lễ Phật Đản 2008 tại Hà Nội. Ngài từ khước không ra Hà Nội.

Ngày 8.9.2007, để đối phó với tình hình nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, bức bách, và vu cáo trắng trợn GHPGVNTN; mặt khác, "một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế", Ngài ban hành Giáo chỉ mang số 9 như biện pháptự vệ và kiện toàn tổ chức Giáo hội trong và ngoài nước.

Ngày 4.2.2008, Đài Á Châu Tự do phát thanh Lời Chúc Tết của Ngài đến Cộng đồng Người Việt hải ngoại nói chung và Cộng đồng Phật giáo hải ngoại nói riêng. Đặc biệt, Ngài gửi lời khen ngợi chư Tôn đức Tăng, Ni, Phật tử hải ngoại “đã tận tình hoằng dương chánh pháp nơi các xứ sở xa xôi, đồng thời vẫn nhất tâm hậu thuẫn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại quê nhà. Đặc biệt chư liệt vị đã chí thành khâm tuân và thi hành Giáo chỉ số 9 do tôi ban hành và các Thông tư, Thông bạch của Viện Hóa Đạo nhằm chấn chỉnh và phát huy Giáo hội trước tình thế mới, cũng như làm rạng danh hai nghìn năm Phật giáo Việt Nam, chư liệt vị Tổ sư, các Thánh tử đạo và những người đã hy sinh để bảo vệ dân tộc, bảo vệ lãnh thổ và bảo vệ chánh pháp”.

Lời Ngài nói đánh bạt mọi xuyên tạc, vu khống của một số Tăng sĩ và Cư sĩ ở hải ngoại tung tin thất thiệt rằng “Giáo chỉ số 9 là giáo chỉ giả không do Ngài ban hành”.

Ngày 18.5.2008, nhân dịp Đại lễ Phật Đản, Cộng đồng Người Việt Quốc gia tại thành phố Houston và vùng phụ cận, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, tổ chức Lễ Vinh danh Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ. Tại cuộc lễ, một trong những lời phát biểu đầy ý nghĩa là lời tôn vinh của ông Al Green, Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ. Ông nói rằng :

“Những người thiện tâm quanh thế giới đều buồn thương ngày Mục sư Martin Luther King bị bắt giam vào nhà ngục Birmingham. Những người thiện tâm quanh thế giới đều buồn thương ngày Nelson Mandela bị bắt giam nửa thế kỷ trước đây. Việc cấm cố Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ hôm nay cũng gây buồn thương cho những người thiện tâm quanh thế giới.

“Bởi vì Mục sư Martin Luther King nhắc nhở chúng ta rằng, bất công ở bất cứ đâu đều đe doạ công lý cho khắp mọi nơi. Bất công đối với Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ hôm nay là mối đe doạ ngay cho đất nước Hoa Kỳ này.

« Chúng ta phải thấy rõ một điều, hễ nhắc tới nhân loại là chỉ còn một chủng tộc - chủng tộc của loài người. Nên chúng ta phải cùng nhau hành động để gìn giữ nhân loại cùng chung nòi giống ấy.

“Hoa Kỳ của chúng ta trong thế đại siêu cường của thế giới, phải khẳng định vấn nạn lớn của nhân sinh. Vấn nạn này không đòi hỏi chúng ta làm “sen đầm” quốc tế , mà là đem lại hoà bình cho thế giới. Đây là lý do vì sao Ngày lễ Phật Đản trở nên vô cùng quan trọng, vì đại lễ này nhắc chúng ta đặt trọng tâm vào sự sống của tha nhân, đem lại hạnh phúc và an lạc cho tha nhân, giúp đỡ tha nhân có cuộc sống yên hàn trên trái đất.

“Cử hành Đại lễ Phật Đản hôm nay, phải là mục tiêu để cho mọi người biến mỗi ngày trong đời sống thành một Ngày Phật Đản, ngày mà chúng ta mang lại an lạc và và hoà điệu cho tha nhân, là điều nhân loại cần được hưởng trong một thế giới cộng sinh.

“Tôi vô cùng hân hạnh được hiện diện hôm nay, trong cương vị Dân biểu Liên bang đơn vị 9 Texas, đồng thời đại diện cho Quốc Hội Hoa Kỳ, trân trọng trao bằng tưởng lệ vinh danh Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ ».

Ngày 27.5.2008 vì bị yếu tim, dịch trong phổi nên Ngài phải vào bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn. Tuần lễ đầu có chiều khả quan. Nhưng sau một thời gian y sĩ phát hiện thêm bệnh gan, thận yếu, và bị suy dinh dưỡng nên phải chuyển Ngài vào phòng cấp cứu nhiều tuần lễ. Sau một tháng hơn nằm viện, bệnh tình Ngài không mấy thuyên giảm, nên Ngài tỏ ý muốn về Tu viện Nguyên Thiều cho được thanh tịnh và nghe công phu sớm chiều. Đây cũng là ước nguyện của hàng giáo phẩm Hội đồng Lưỡng Viện và Môn đồ pháp quyến.

Về đến Tu Viện Nguyên Thiều lúc 15 giờ 30 chiều 4.7.2008 và được chư Tôn đức trong Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và Hoà thượng Thích Thiện Hạnh dẫn đầu rước Đức Tăng Thống vào phương trượng.

Tám giờ sáng ngày 5.7.2008 Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN cùng chư Tăng tại Tu viện Nguyên Thiều Khai kinh Cầu An cho Ngài. Đến 13 giờ chiều cùng ngày Ngài xả báo thân, an thần thị tịch nơi phương trượng của Ngài tại Tu viện Nguyên Thiều do Ngài sáng lập 50 năm trước. Ngài trụ thế 89 năm, pháp lạp 69.

Nguyên Thái Võ Văn Ái chấp bút
Paris, 4.7.2008